Xin chào quý vị và các bạn! Anh Thư và Hayashi Takaya của VIETNAM yêu mến KOBE xin được tiếp tục chia sẻ những thông tin hữu ích cho người Việt hiện đang sinh sống tại Nhật Bản trong chương trình ngày hôm nay. Trong Phần 3 của tháng này, chúng tôi sẽ tiếp tục gửi đến quý vị Mỹ Du Ký của Takaya.
皆さん、こんにちは。今回はベトナム夢KOBEのAnh Thưと林貴哉が日本に暮らすベトナム人に役立つ情報をお伝えします。今月もPart 3は林のアメリカ紀行をお伝えします。
Trong thời gian ở Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019, tôi đã có một số cơ hội được phóng viên các tờ báo Việt Nam phỏng vấn. Sau các cuộc phỏng vấn, các phóng viên đã viết bài được đăng trên báo và trang web của báo. Một trong những bài báo có tiêu đề “Sinh viên Nhật Bản thích thú khi biết người Việt ở Little Saigon ‘Trắng tay làm nên sự nghiệp’”.
2018年12月から2019年2月までアメリカ合衆国に滞在していた時、私はベトナム語の新聞社の記者から取材を受ける機会が何度かありました。記者はインタビューの後、記事を書き、新聞として発行したり、その新聞社のWebページに掲載したりしました。そのうちの一つの記事のタイトルは、「Sinh viên Nhật thích thú khi biết người Việt ở Little Saigon ‘trắng tay làm nên sự nghiệp’」(「リトルサイゴンのベトナム人が『無一文から成功をつかんだ』ことに日本の学生が感銘を受けた」)でした。
Có hai người phỏng vấn đã lắng nghe câu chuyện của tôi: phóng viên và một giáo sư từ Đại học UC,Irvine. Cả hai người đã giới thiệu cho tôi cụm từ “trắng tay làm nên sự nghiệp” và “hai bàn tay trắng” sau khi nghe tôi giải thích về việc tôi bắt đầu nghiên cứu về người tị nạn Việt Nam. Tôi cảm thấy cụm từ này là một trong những lý do khiến tôi tiếp tục nghiên cứu về những người di cư.
私の話を聞いたインタビュアーは2人いて、記者とカリフォルニア大学アーバイン校の先生でした。「trắng tay làm nên sự nghiệp」(無一文から成功を収める)、「hai bàn tay trắng」(ゼロから素手で)という表現は、私がベトナム難民の研究を始めるようになった経緯を語ったのを聞いて、二人が紹介してくれたものでした。この表現は、私が移動する人々の研究に取り組み続ける理由の一つのようにも感じました。
Lý do tôi muốn đến thăm cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ là vì, khi còn là sinh viên cao học, tôi nghe nhiều người nói rằng nhiều người Việt tị nạn sang Mỹ “thành công” hơn những người ở Nhật Bản. Ví dụ, tôi nghe nói có nhiều người Việt hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như bác sĩ, luật sư và giáo sư. Trong ba tháng ở Mỹ, tôi đã lắng nghe những câu chuyện của nhiều người về cuộc sống của họ ở Việt Nam và cách họ xây dựng cuộc sống mới sau khi đến Mỹ.
私がアメリカ合衆国のベトナム人コミュニティに行ってみたいと思った理由は、大学院生だった当時、アメリカに行ったベトナム難民の多くは、日本にいるベトナム難民よりも「成功している」と話す人がいたからです。例えば、医師、弁護士、教授など、様々な分野で活躍しているベトナム人もいると聞きます。そこで、アメリカで暮らすベトナム人がどのように言語や文化の壁を乗り越え、ビジネスで成功しているのかを知りたいと思いました。アメリカで過ごした3か月間、様々な方々が、かつてベトナムでどのような生活をしていたのか、そして、アメリカにきた後、どのように新たな人生を築いてきたのか、といった話を聞きました。
Nhìn vào cách mà những người tị nạn Việt Nam “trắng tay làm nên sự nghiệp”, tôi cảm thấy mình được truyền cảm hứng để xem xét lại bản thân và có thêm can đảm để dấn thân vào những thử thách mới trong đời. Có thể bạn không thể tìm thấy một xã hội lý tưởng ở bất cứ nơi nào bạn đến. Tuy nhiên, như câu nói “Giấc mơ Mỹ” gợi ý, có thể bạn sẽ thu được điều gì đó khi đến một nơi khác. Xã hội Mỹ không nhất thiết tốt hơn xã hội Nhật Bản, nhưng tôi vẫn hy vọng tìm được những manh mối để vượt qua cảm giác trì trệ mà tôi cảm nhận được trong xã hội Nhật Bản. Đó là lý do tại sao tôi tiếp tục đi đến các cộng đồng trên khắp đất nước và tiến hành nghiên cứu thực địa. Trong xã hội thay đổi nhanh chóng ngày nay, tôi tin rằng việc bắt đầu lại từ đầu và thực hiện những sáng kiến mới để tạo ra một xã hội dễ sống hơn là vô cùng quan trọng.
私はベトナム難民の方々の「素手で初めて成功を収める」という発想から、私自身が自分の今の生活を見つめ直して、新たな挑戦をするための勇気をもらったように思います。どこに行っても理想的な社会があるわけではないかもしれません。しかし、「アメリカンドリーム」といった表現もあるように、ここでないどこかに行くことによって得られるものがあるのではないかとも思います。必ずしもアメリカ社会が良いとは限りませんが、日本の外に出ることで、日本社会で感じてきた閉塞感を乗り越えるための手がかりを得られると考えます。これが私が各地のコミュニティに出かけて、フィールドワークを続ける理由です。現在のように急速に変化していく社会では、ゼロから新たな取り組みをして、自分たちにとって住みやすい社会を作っていくことはとても重要なことだと思っています。
Xin chào quý vị và các bạn, Anh Thư và Hayashi Takaya của Việt Nam yêu mến KOBE xin được tiếp tục chia sẻ những thông tin hữu ích cho người Việt sống tại Nhật trong chương trình ngày hôm nay.
皆さん、こんにちは。今回はベトナム夢KOBEのAnh Thưと林貴哉が日本に暮らすベトナム人に役立つ情報をお伝えします。
Tiếp nối phần 1 của chương trình tháng 2, ở phần này, Anh Thư xin chia sẻ thêm về cách đón Tết của người Việt cùng với trải nghiệm và ký ức cá nhân.
パート1に続き、パート2ではベトナム人のテトの過ごし方について、Anh Thuの個人的な体験や思い出を交えてお話したいと思います。
Đêm giao thừa thì mọi nhà sẽ chuẩn bị mâm cúng giao thừa gồm gà luộc, bánh chưng, xôi, hoa quả và một bình hoa tươi. Nhà mình sống trong một ngôi làng có thờ thần hoàng làng trong đình nên sẽ chuẩn bị thêm một mâm cúng mang ra đình lễ. Đặc biệt, mâm cúng có gà luộc nguyên con ngậm cánh hoa hồng trong miệng luôn được mẹ chuẩn bị rất cẩn thận, tất nhiên tùy vào từng nơi trên đất nước Việt Nam thì mâm cúng sẽ khác nhau. Tất cả những đồ trong mâm cúng sẽ được ăn trong những ngày năm mới.
大晦日の夜には、どの家庭でも年越しの供え物を準備します。その内容は、ゆで鶏、バインチュン、もち米ご飯(おこわ)、果物、そして生花の花瓶などです。私の家は村の守り神を祀るお堂がある村に住んでいたため、家の供え物とは別に、村のお堂に持っていく供え物も準備していました。特に、口にバラの花びらをくわえた丸ごとのゆで鶏は、母がいつも丁寧に用意してくれたものです。もちろん、地域によって供え物の内容は異なりますが、供えた料理は新年の数日間に家族でいただきます。
Ở Việt Nam có câu “Mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” ngụ ý cách đón tết trong ba ngày đầu năm mới. Ngày mùng 1 được xem là ngày “Tết cha”, “ngày của gia đình”, chủ yếu là đón tết cùng với gia đình bên nội, mọi người sum họp, chúc Tết nhau và cùng đi chùa đầu năm để cầu may mắn, sức khỏe. Ngày mùng 2 là “Tết mẹ”, “ngày thăm họ hàng”, chủ yếu dành thời gian đi đến nhà họ hàng trò chuyện và cùng nhau ăn uống, những cô con gái đã đi lấy chồng sẽ về nhà mẹ đẻ chúc Tết. Còn ngày mùng 3 thường dành để thăm thầy cô và bạn bè, một số gia đình cũng bắt đầu chuẩn bị quay lại công việc sau kỳ nghỉ.
ベトナムには「元日は父方、2日目は母方、3日目は先生へ」という言葉があり、新年最初の3日間の過ごし方を表しています。元日(1日目)は「父方のテト」、つまり「家族の日」とされ、主に父方の家族と過ごします。家族が集まり、新年のあいさつを交わし、寺院へ初詣に行って健康や幸運を祈ります。2日目は「母方のテト」、いわゆる「親戚を訪ねる日」です。母方の親戚の家を訪れ、会話を楽しんだり、一緒に食事をしたりします。結婚した娘たちは、この日に実家へ戻って母親に新年のあいさつをします。3日目は「先生や友人を訪ねる日」とされています。恩師を訪ねて感謝を伝えたり、友人と新年を祝い合ったりします。また、この頃から仕事に戻る準備を始める家庭もあります。
Như vậy, ba ngày Tết của người Việt thể hiện sự lan tỏa của lời chúc và tình cảm: từ gia đình, đến họ hàng, rồi đến thầy cô và bạn bè. Đó là nét đẹp văn hóa thể hiện sự trân trọng các mối quan hệ và tinh thần đoàn kết của người Việt Nam.
このように、ベトナムのテトの3日間は家族、親戚、先生・友人へと、祝福と感謝の気持ちが広がっていく期間です。これは、人間関係を大切に、絆や思いやりを重んじるベトナム文化の美しさをよく表しています。
Chương trình đến đây là kết thúc. Xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.
これで本日の番組は終了です。ご視聴ありがとうございました。またお会いしましょう。